Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Không hai

Không hai
Đố ai nhặt hết lá vàng rơi
Lắm chuyện vui buồn chẳng thảnh thơi
Theo đá chèn chân hòng lấp cỏ
Lìa bùn sáng nẻo những xa đời
Liên hoa từ ấu sen duyên dáng
Phiền não thị an lạc tuyệt vời
Sóng nước mêng mang cùng biển cả
Thuyền ai thấp thoáng ánh trăng khơi


Hoa Cát Phan Văn

HOÀI XUÂN


HOÀI XUÂN - Phan Văn



HOÀI XUÂN
 

Ngắm trăng vừa tỏ lúc chiều tà 
Hằng nhớ quê mình vạn dặm xa 
Rượu chúc xôn xao chờ bác viếng
Nhà vui nao nức đợi em qua 
 Hoàng mai nhụy tỏa tình ngây ngất 
Thiết mộc hương say nghĩa đậm đà 
Những mấy năm rồi gần đến tết 
Bâng khuâng ngơ ngẩn trĩu lòng hoa.
Hoa  Cát Phan Văn

Bố Đại Hòa Thượng


Ca Khúc Bố Đại Hòa ThượngLời Hoa Cát  Phan VănNhạc Thế LuậtCa sĩ Mỹ Dung thể hiện

Gửi nắng

Gửi nắng


Chiều về gọi nắng hoàng hôn 
Chim ngàn rong ruổi bồn chồn gió đông 
Nhạt vàng phơ phất cuối đồng 
Áo em tím điểm huỳnh hồng lững lơ

Xin nhau thế tục lời thơ
Vô ngôn ẩn ngữ hững hờ thị phi
Hương thầm thoảng gió văn thi
Em xưa rong ruổi vũ nghi nghê thường

Trỗi lên khúc hát vấn vương
Cớ sao bất chợt hiện đường tồn sinh !?


Hoa Cát Phan Văn
 

Nỗi lòng

Nỗi lòng(Kính tặng Thầy PHAN ANH )

Guốc vang lốc cốc nhịp vào không
Âm vọng khoan thai nhẹ nỗi lòng
Cháu tặng hôm vui nhiều kỷ niệm
Thầy về khi nhớ lắm hoài trông
Sài Gòn rượu nghĩa buồn lăng lẵng
Phong Lục quê tình đợi ngóng mong
Rảo bước tiếng vơi chiều lắng đọng
Gỏ đều vang nhẹ nhớ mênh mông

Hoa Cát Phan Văn
 

Vườn Ngọc

Vườn Ngọc

Vườn ngọc ghét thương thế sự đời
Kiếp người an lạc thọ sanh vơi
Mỉm chi rỏ lối ,vui vừa hiểu
Cười nhẹ tìm về ,khổ chợt thơi
Lạc chốn u buồn thân lẩn thẩn
Sống nơi huệ trí ánh ngàn khơi
Chiều nao âm vọng nguồn trong tỏ
Sương nhẹ hừng đông thoáng biển trời

Hoa Cát Phan Văn
 

Trích Tổng Luận Kinh Lăng Nghiêm -Bĩ Cực Thái Lai



Bĩ Cực Thái Lai3 tháng 4 9:51 sáng
Trích Tổng Luận Kinh Lăng Nghiêm

Từ Phật Oai Âm Vương về trước, không có tên Phật và tên chúng sanh. Bấy giờ chính là đạo. Chỉ có điều là không người giác tri. Lớn thay lời nói ấy! Có thể gọi lời đó là phơi bày ánh sáng giữa ban ngày, ngợi khen sự mênh mông của biển cả. (Ý nói đã sáng càng thêm sáng, đã mênh mông càng thêm mênh mông). Ngộ tức là đề hồ, mê vẫn là độc dược.

Do đó cho nên đức Phật đóng cửa thất nơi nước Ma-kiệt-đà, ngài Duy Ma Cật ngậm miệng tại thành Tỳ-da-ly. Ðâu chỉ vì chơn cơ tuyệt đãi, mà thật là chí đạo khó nói. Cho nên đức Thế Tôn trải tọa dưới cội Bồ-đề, bèn muốn thị hiện nhập Niết-bàn, bày ngực giữa rừng cây Song thọ, lại tuyên bố không từng nói một chữ. Trước sau cùng một ý chí này, đầu cuối toàn nêu bày trọn vẹn. Lời dạy trong Mười hai bộ kinh, đúng thật đều là phương tiện. Ba thời năm giáo, quyền giáo Tiểu thừa đều thu nhập vào tính Diệu viên.

Pháp giới đâu thể biết, đồng giác mê mà thành chung thủy; trí sáng tự chiếu soi, bao hàm chơn vọng bởi tánh viên thường. Từ trước đến nay vẫn là như thế. Cổ động sự vào ra của muôn loài mà không cùng với Thánh nhân đồng một lo nghĩ, (muôn loài ra vào từ diệu tánh, mà diệu tánh không có sự lo nghĩ như Thánh nhân). Tận cùng chỗ chỉ quy của Ba tạng, cốt yếu gạn rõ việc khó rõ của trăm họ. Vốn tự không mê đâu lại có ngộ? Trỏ nhĩ diệm (sở tri) là Bồ-đề, luống uổng khơi bày cái thấy của đấng Ðộc tôn: trả Niết-bàn về sanh tử, ai biết được tâm đấng Ðại giác.

Phải biết vọng xoay theo bất giác, mới tin diệu tánh tức vô minh. Hội ba đời trong một sát-na, dung mười phương nơi đương niệm. Trong đây rất khó dung hợp, động niệm liền dính trần sa, vừa tự tin đã là trôi mất thời gian, còn để mặc tự nhiên thì lại đồng mờ mịt.

Việc hằng ngày của kẻ dung thường, chính là chỗ để tâm của hàng Thượng triết: sự có không của phàm phu, ngoại đạo đều là chỗ cứng lưỡi của bậc Chí nhân. Ðộng cũng không phải là vọng, tánh trí vốn tự lặng yên. Lý chơn thật rốt ráo về đâu, tánh hư không đồng với tịch chiếu. Còn không phải là kiếp ngoại, thì đâu gọi là thời nay.

(còn tiếp)

Xem bài đăng trên Facebook · Chỉnh sửa thiết lập email · Trả lời email này để thêm bình luận.